Giao thông xanh tăng tốc: 400 nghìn xe điện, hạ tầng năng lượng đã sẵn sàng?

(Tiinteen) – Việt Nam đẩy mạnh giao thông xanh với 400 nghìn phương tiện điện, 15.024 điểm sạc, nhưng còn nhiều thách thức về hạ tầng, nguồn điện và vốn.

Xe điện tăng nhanh

Việt Nam đang từng bước chuyển dịch giao thông theo hướng xanh hơn, với xe điện, hạ tầng sạc và các giải pháp sử dụng năng lượng sạch ngày càng được mở rộng. Tuy nhiên, kết quả sau 4 năm thực hiện Chương trình hành động chuyển đổi năng lượng xanh, giảm phát thải khí carbon và khí mê-tan của ngành giao thông vận tải theo Quyết định 876/QĐ-TTg ngày 22/7/2022 cũng cho thấy những thách thức lớn về hạ tầng, nguồn điện, vốn đầu tư và mức độ đồng đều giữa các phương thức vận tải.

Theo báo cáo tổng kết chương trình ghi nhận 5 luật chuyên ngành và môi trường, 9 nghị định, quyết định, thông tư, chỉ thị được ban hành, cùng 28 tiêu chuẩn Việt Nam liên quan đến hệ sinh thái xe điện và 2 quy chuẩn kỹ thuật trọng tâm về hạ tầng sạc. Các chính sách về ưu đãi đầu tư, thuế, lệ phí trước bạ, giá điện phục vụ sạc xe điện và thị trường carbon cũng từng bước tạo cơ sở huy động nguồn lực cho chuyển đổi xanh.

Ở cấp địa phương, Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh đã xây dựng các công cụ quản lý vùng phát thải thấp, hỗ trợ chuyển đổi phương tiện sạch, phát triển giao thông công cộng và từng bước kiểm soát phương tiện cá nhân tại khu vực trung tâm. Một số chính sách hướng tới nhóm người dân, người lao động sử dụng phương tiện phục vụ sinh kế, qua đó giảm áp lực chi phí khi chuyển sang phương tiện sạch.

Trong đó, đường bộ là lĩnh vực có tốc độ chuyển đổi rõ nét nhất. Theo số liệu của Cục Đăng kiểm Việt Nam, tính đến tháng 6/2026, tổng số phương tiện trên toàn quốc hơn 6,3 triệu phương tiện, trong đó phương tiện điện khoảng 400 nghìn, chiếm khoảng 6,1% tổng số xe cơ giới. Ô tô con chiếm 97,3% tổng số phương tiện điện, trong khi xe máy điện tăng trưởng khoảng 28% mỗi năm. Cả nước có 3.893 ô tô tải điện, 47 đầu kéo điện, 2.502 ô tô khách điện, chủ yếu là xe buýt đô thị, và 8 ô tô chuyên dùng điện.

Hạ tầng sạc cũng được mở rộng với 15.024 trạm/cổng sạc, gồm 5.331 điểm sạc nhanh và 9.693 điểm sạc chậm, hiện diện tại 34/34 tỉnh, thành phố. Trên mạng lưới cao tốc, quốc lộ, hạ tầng sạc đã có mặt tại 125/215 tuyến. Tuy nhiên, tại các trạm dừng nghỉ, mức độ phát triển còn hạn chế. Đến tháng 5/2026, mới có 4/21 trạm dừng nghỉ vận hành hệ thống sạc, trong khi 8 trạm đang lắp đặt.

Trong giao thông đô thị, cả nước có 1.946 xe buýt điện trên tổng số 8.428 xe buýt, tương đương 23,1%. Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh có 1.849 xe buýt điện trên tổng số 4.642 xe; các thành phố trực thuộc Trung ương khác có 37 xe trên 995 xe; 27 tỉnh còn lại có 60 xe trên 2.791 xe.

Bên cạnh đó, taxi là nhóm phương tiện có tốc độ chuyển đổi nổi bật. Trong tổng số 86.274 taxi đang hoạt động, có 61.171 taxi điện và 25.528 taxi sử dụng xăng, diesel; tỷ lệ taxi điện đạt 70,9%. Theo nhóm địa bàn, tỷ lệ này khoảng 74% tại các thành phố loại đặc biệt, 84,2% tại các thành phố trực thuộc Trung ương và 66,1% tại các tỉnh khác.

Hạ tầng năng lượng trở thành điểm nghẽn

Bên cạnh kết quả đạt được, báo cáo cho thấy mạng lưới trạm sạc, đổi pin và hạ tầng cung cấp nhiên liệu xanh chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu. Hạ tầng phân bố chưa hợp lý, đặc biệt thiếu các công trình công suất lớn phục vụ xe tải, xe khách, depot xe buýt, trạm dừng nghỉ, cảng và sân bay.

Việc phát triển phương tiện điện cũng chưa được kết nối đồng bộ với quy hoạch nguồn điện, lưới điện, vị trí trạm sạc và quỹ đất. Các tiêu chuẩn, quy chuẩn về an toàn điện, phòng cháy, chữa cháy, trạm nạp hydrogen, tái chế pin và cấp điện bờ tiếp tục cần được hoàn thiện.

Đáng chú ý, nhu cầu điện bổ sung cho giao thông điện đến năm 2030 dự kiến khoảng 3 – 4 tỷ kWh mỗi năm, tương đương 1 – 1,5% sản lượng điện toàn hệ thống. Bài toán đặt ra không chỉ là bảo đảm tổng nguồn điện, mà còn phải cung cấp đúng địa điểm, đúng thời điểm và đáp ứng phụ tải cực đại. Tại các bến xe, depot, cảng cạn và trạm dừng nghỉ, nhu cầu sạc công suất cao có thể tạo thêm áp lực lên hệ thống điện.

Do đó, quá trình chuyển đổi cần gắn với sạc thông minh, quản lý phụ tải, tích hợp năng lượng tái tạo và lưu trữ điện; đồng thời tăng cường phối hợp giữa doanh nghiệp vận tải, chính quyền, ngành điện và các nhà phát triển hạ tầng sạc.

Ở các phương thức vận tải khác, chuyển đổi xanh mới chủ yếu ở giai đoạn nghiên cứu, thí điểm và chuẩn bị điều kiện. Đường thủy nội địa bước đầu khuyến khích đóng mới, nhập khẩu, chuyển đổi phương tiện sang điện và năng lượng xanh, đồng thời thí điểm cảng xanh và tuyến vận tải xanh. Trong hàng hải, các công cụ EEDI, EEXI và CII đã được áp dụng. Có 11 cảng xanh được công bố, 13 cảng được đánh giá đạt tiêu chí xanh nhưng chưa công bố; khoảng 10.000 đèn báo hiệu sử dụng năng lượng mặt trời, tích hợp GPS, đã được triển khai.

Trong hàng không, lượng SAF pha trộn thực tế tăng từ 37.516 tấn năm 2024 lên 72.358 tấn năm 2025. Việt Nam sử dụng SAF cho chuyến bay quốc tế đầu tiên năm 2024 trên chặng Singapore – Hà Nội. Năm 2025, Vietnam Airlines sử dụng SAF trên 6 chuyến bay nội địa xuất phát từ Đà Nẵng đi Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh.

Để hướng tới mục tiêu giao thông vận tải phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, báo cáo cho rằng cần cụ thể hóa lộ trình theo từng nhóm phương tiện, cự ly, tải trọng và địa bàn; đồng bộ hạ tầng năng lượng; hoàn thiện cơ chế huy động nguồn lực; nâng cao chất lượng dữ liệu, nhân lực và năng lực kiểm kê, theo dõi phát thải. Đây sẽ là những điều kiện quan trọng để quá trình chuyển đổi giao thông xanh đi từ mở rộng phương tiện sạch sang một hệ thống giao thông phát thải thấp đồng bộ và bền vững.

Để lại một bình luận

Có thể bạn quan tâm